CHIA SẺ 28. Các vấn đề liên quan đến form E 3 bên.

📚 CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN C/O FORM E 3 BÊN. (BÊN BÁN VÀ SẢN XUẤT CÙNG NƯỚC VÀ KHÁC NƯỚC)

📚 C/O FORM E ỦY QUYỀN LÀ GÌ, CÓ ĐƯỢC HƯỞNG
ƯU ĐÃI ?

📚THẮC MẮC VỀ ‘’ ISSUED RETROACTIVELY ’’

——————————————————-

  1. Các vấn đề liên quan đến C/O form E 3 bên.

Đây là trường hợp gặp khá nhiều ở C/O form E hàng nhập khẩu. Rất nhiều doanh nghiệp khi xuất trình C/O form E có 3 bên tham gia nhưng lại bị hải quan bác (không chấp nhận), xem xét kỹ vẫn cứ nghĩ đây là Form E 3 bên và chẳng hiểu lý do tại sao lại bị ”vứt đi” sau bao công sức làm, đành ngậm ngùi quay về nộp thêm thuế.

1.1 Trước tiên, thế nào là hóa đơn bên thứ 3.

Theo Công văn 12149/BCT-XNK ngày 14/12/2012: “hóa đơn Bên thứ ba” là hóa đơn thương mại được phát hành bởi một công ty có trụ sở tại một Nước thứ ba (trong hoặc ngoài ACFTA) hoặc bởi một nhà xuất khẩu có trụ sở đặt tại các Bên tham gia Hiệp định ACFTA là đại diện cho công ty đó.
Nước thứ ba là Nước/Vùng lãnh thổ phát hành hóa đơn mà không phải là Nước/Vùng lãnh thổ xuất khẩu/nhập khẩu. Lấy ví dụ như sau:

– Công ty bán hàng: Công ty tại Singapore … (Có thể trong khối ACFTA hoặc ngoài khối ACFTA đều được, nhưng không phải China)
– Công ty sản xuất: Công ty tại China.
– Công ty nhập khẩu: Công ty Việt Nam
– Hàng đi từ China đến Việt Nam, Chú ý trên vận đơn (Bill of lading) có thể để Shipper là nhà sản xuất tại China hoặc bên bán hàng tại Singapore đều có thể chấp nhận (Theo công văn Số: 1335/GSQL-TH)

=> Hóa đơn do Công ty bên SINGAPORE phát hành cho Công ty Việt Nam gọi là hóa đơn bên thứ ba.

Đối với TH này khi thỏa hóa đơn nước thứ 3 thì C/O Form E khi phát ra được gọi là C/O form E 3 bên, và C/O phải thể hiện được các nội dung như sau:

Theo điểm d khoản 14 Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư 36/2010/TT-BCT: “Trường hợp hóa đơn phát hành tại bên thứ ba thì đánh dấu vào ô “Third Party Invoicing”, số hóa đơn phải được ghi rõ tại ô số 10, tên công ty phát hành hóa đơn và tên Nước mà công ty này đặt trụ sở tại nước đó phải được ghi rõ tại ô số 7”

*** Theo đó ta xét ví dụ:
Công ty bán hàng: Công ty tại SINGAPORE
Công ty sản xuất: Công ty tại CHINA, đứng tên trên C/O form E
Công ty nhập khẩu: Công ty VIỆT NAM
Hàng đi trực tiếp từ Trung Quốc qua Việt Nam.

=> Vậy C/O form E được xem là hợp lệ khi:

– Ô số 1: Tên, địa chỉ, nước của công ty sản xuất tại Trung Quốc.
– Ô số 2: Tên, địa chỉ, nước của Công ty mua hàng (nhập khẩu) tại Việt Nam.
– Ô số 7: Tên và nước của Công ty đối tác bán hàng tại SINGAPORE.
– Ô số 10: Số và ngày hóa đơn thương mại giữa Công ty tại Việt Nam và Công ty tại SINGAPORE.
– Ô số 13: Tick vào mục Third Party Invoicing.

Lưu ý: Bản sao của hóa đơn bên thứ ba phải được nộp cùng với C/O mẫu E cho cơ quan Hải quan Bên nhập khẩu. (Điều 23 Phụ lục II Thông tư 36/2010/TT-BCT)

1.2 Vấn đề đặt ra tiếp theo, nếu bên bán hàng và bên nhà sản xuất đều thuộc CHINA thì sao? Tức là:

– Công ty bán hàng: Công ty tại China…
– Công ty sản xuất: Công ty khác tại China, đứng tên trên C/O form E (Ô số 1)
– Công ty nhập khẩu: Công ty Việt Nam
– Hàng đi từ Trung Quốc đến Việt Nam.

Đây là trường hợp gây khá nhiều tranh cãi, nhiều hải quan dựa vào định nghĩa Hóa đơn nước thứ 3 để bác bỏ, tuy nhiên căn cứ vào công văn Số: 2706/TCHQ-GSQL. V/v Hướng dẫn một số điểm của TT36/2010/TT-BCT và triển khai kết quả cuộc họp ACTNC lần thứ 37 có ghi rõ:

‘’ 7. Điều 23. Phụ lục II Thông tư 36/2010/TT-BCT quy định cơ quan Hải quan Bên nhập khẩu chấp nhận C/O mẫu E trong trường hợp hóa đơn thương mại được phát hành bởi một công ty có trụ sở tại một nước thứ ba.
Trường hợp hóa đơn do một công ty của Trung Quốc hoặc ASEAN cấp (công ty này không phải nhà xuất khẩu) cũng được hiểu là trường hợp hóa đơn bên thứ ba’’.

Như vậy trong TH này, C/O form E do nhà sản xuất phát hành vẫn được dùng để hưởng ưu đãi về thuế nếu C/O form E đầy đủ các tiêu chí như trường hợp 1, đó là:

– Ô số 1: Tên, địa chỉ, nước của công ty sản xuất tại Trung Quốc.
– Ô số 2: Tên, địa chỉ, nước của Công ty mua hàng (nhập khẩu) tại Việt Nam.
– Ô số 7: Tên và nước của Công ty đối tác bán hàng tại China.
– Ô số 10: Số và ngày hóa đơn thương mại giữa Công ty tại Việt Nam và Công ty bán hàng tại China
– Ô số 13: Tick vào mục Third Party Invoicing.

  1. Vấn đề về C/O form E ủy quyền.

Chưa thấy có định nghĩa nào về cái này, nhưng theo mình hiểu đơn giản thằng bán hàng (Là nhà máy) đứng tên trên tất cả chứng từ, duy chỉ có 1 điều là nó lại không thể đứng tên trên C/O form E, nên muốn làm Form E phải ủy quyền cho 1 thằng nào đấy lạ hoắc đứng tên và làm thủ tục, ví dụ thực tế phổ biến nhất là như này:

– Bên bán hàng : Cũng chính là Công ty sản xuất tại China, đứng tên trên tất cả chứng từ : Hợp đồng, Invoice, Vận đơn…, và cũng được thể hiện tại Ô sô 7 (Tên nhà sản xuất)
– Bên mua hàng: Công ty nhập khẩu tại Việt Nam.
– C/O form E : Công ty bán hàng không thể đứng tên (Ô số 1) nên nhờ 1 công ty thương mại khác tại China đứng tên Và vì chỉ là quan hệ ủy quyền nên đương nhiên cũng không thể tick được vào mục ô số 13 : Third Party Invoicing.

C/O form E trong TH này xem như C/O form E ủy quyền.

Căn cứ công văn 5467/TCHQ-GSQL.

‘’ Người được ghi trên ô số 1 của C/O mẫu E:
Theo hướng dẫn của Bộ Công Thương tại công văn số 343/XNK-XXHH ngày 12/8/2013 thì người đứng tên ô số 1 của C/O mẫu E là người xuất khẩu, đồng thời là tên người phát hành hóa đơn trừ trường hợp hóa đơn do bên thứ ba phát hành.
Trường hợp tại ô số 1 trên C/O mẫu E thể hiện người ủy quyền mà không phải là tên người xuất khẩu và không thuộc trường hợp có hóa đơn do bên thứ ba, C/O mẫu E đó không hợp lệ để hưởng ưu đãi theo Hiệp định ACFTA ‘’

Do đó C/O form E này không được hưởng ưu đãi về thuế.

  1. Vấn đề liên quan đến ’ISSUED RETROACTIVELY’

Ngày trước mình có nhận được câu hỏi trên Group ‘’Có bài nào giúp em vụ tích phần “issued retroactively” vs ạ?? Em vừa nhận 1 lô hàng từ Malaysia BL date 22/6, ngày CO 19/6 nhưng có tích phần ô kia và hải quan ko chấp nhận cái đó. Em ko hiểu lắm lý do gì??

Retroactively theo nguyên thủy nghĩa là ”Có hiệu lực từ một thời điểm trong quá khứ”.

Về nguyên tắc, một C/O phải được cấp trước hoặc tại thời điểm giao hàng hoặc không chậm hơn ba (03) ngày, lấy ngày giao hàng làm mốc tính (Ngày hàng đi). Trong trường hợp ngoại lệ, nếu C/O không được cấp trước thời điểm giao hàng hoặc không chậm hơn ba (03) ngày, lấy ngày giao hàng làm mốc tính theo đề nghị của người xuất khẩu, C/O sẽ được cấp sau trong vòng mười hai (12) tháng, lấy ngày giao hàng làm mốc tính và phải tick vào nội dung “Issued Retroactively”

Các bạn có thể tham khảo thêm : công văn Số: 508/GSQL-GQ4 V/v vướng mắc C/O form E

Tuy nhiên Căn cứ công văn Số: 1094/GSQL-TH V/v vướng mắc C/O có chỉ rõ : ‘’ Căn cứ khoản 2, Điều 26 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 quy định hướng dẫn về các khác biệt nhỏ trên C/O, đối với C/O được cấp không quá 03 ngày kể từ ngày xuất khẩu nhưng trên ô số 13 lại đánh dấu vào mục “issued retroactively”, trường hợp cơ quan hải quan không có nghi ngờ về tính chính xác của các thông tin khai báo trên C/O và xuất xứ của lô hàng, C/O vẫn được chấp nhận.’’

Như vậy hiểu chung nhất nếu C/O được cấp sau 3 ngày tính từ ngày giao hàng buộc phải tick vào ô “Issued Retroactively”, trường hợp C/O được cấp trong vòng 3 ngày sau khi giao hàng nhưng lỡ tick vào ô “Issued Retroactively” , được xem như sai sót nhỏ và vẫn có thể được chấp nhận.

Trường hợp của bạn Phước Anh, ngày Bill là 22/06, ngày cấp C/O là ngày 19/06 trước ngày Bill, bạn tick vào ô ”issued retroactively” xem như không hợp lệ.

Advertisements